Giới hạn trần ưu đãi đầu tư để tránh xói mòn ngân sách
Đại biểu Nguyễn Hoàng Bảo Trân (đoàn TP Hồ Chí Minh) phản ánh, Điều 14 dự thảo Luật đã xác lập hai công cụ chính sách quan trọng là ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư, tạo khung pháp lý cho các hình thức khuyến khích doanh nghiệp.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng điều khoản này cần được hoàn thiện theo ba hướng.
Thứ nhất, phân biệt rõ bản chất giữa ưu đãi và hỗ trợ. Ưu đãi đầu tư là cơ chế giảm gánh nặng chủ yếu thông qua thuế đất đai. Hỗ trợ đầu tư là cơ chế tăng năng lực như đào tạo nhân lực, hạ tầng, nghiên cứu phát triển.
“Dự thảo hiện nay chưa phân định rạch ròi hai công cụ này, dễ dẫn đến tình trạng các địa phương áp dụng ưu đãi trùng lặp hoặc hỗ trợ thiếu cơ sở. Tôi đề nghị tách rõ phạm vi áp dụng tiêu chí và điều kiện của từng công cụ để đảm bảo đồng bộ chính sách”, bà Trân nói.
Thứ hai, cần có giới hạn trần ưu đãi. Nhiều năm qua, Việt Nam chứng kiến tình trạng đua nhau ưu đãi để thu hút nhà đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, dệt may, lắp ráp đơn giản. Điều này làm xói mòn nguồn thu ngân sách nhưng không tạo giá trị tăng tương xứng. Nên bổ sung quy định về ngưỡng tối đa đối với một số loại ưu đãi, đồng thời yêu cầu đánh giá tác động trước khi trao ưu đãi để bảo đảm kỷ luật tài khóa.
Thứ ba, bổ sung nguyên tắc gắn ưu đãi hỗ trợ với hiệu quả thực. “Tôi đề nghị làm rõ nguyên tắc ưu đãi và hỗ trợ đầu tư phải gắn với cam kết và kết quả thực hiện của nhà đầu tư. Trường hợp không đạt yêu cầu, cơ quan nhà nước có quyền điều chỉnh, thu hồi hoặc yêu cầu bồi hoàn. Quy định này cần được đưa thẳng vào Điều 14 để tạo nền tảng chung cho các Điều 15, Điều 16 và Điều 17 vận hành hiệu quả”, đại biểu nói.
Góp ý vấn đề cụ thể, đại biểu đoàn TP Hồ Chí Minh đề nghị danh mục ngành, nghề ưu đãi cần tái cấu trúc theo hướng chiến lược (phân định rõ các ngành truyền thống như nông nghiệp, công nghiệp nhẹ với các lĩnh vực nổi bật của nền kinh tế tri thức như AI, công nghệ số, bán dẫn, đổi mới sáng tạo…, trong đó ưu tiên rõ ràng cho các ngành có tính dẫn dắt, lan tỏa).
Bên cạnh đó, bà cho rằng cần cập nhật lại tiêu chí địa bàn ưu đãi phù hợp hơn với thực tế, với chu kỳ 3-5 năm. Dự thảo vẫn dựa chủ yếu trên phân loại địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn theo chuẩn của các năm trước. Trong khi đó, hạ tầng giao thông đô thị và công nghiệp đã thay đổi mạnh mẽ, nhiều địa phương trước đây khó khăn nay đã bứt phá và ngược lại.
Ngoài ra, cần bổ sung yêu cầu về hiệu quả lan tỏa. Không ít dự án được ưu đãi nhưng đóng góp vào liên kết chuỗi còn rất nhỏ. “Do đó, tôi đề xuất đưa vào Điều 15 điều kiện: Ưu đãi chỉ áp dụng đối với dự án có cam kết tạo liên kết chuỗi, chuyển giao công nghệ hoặc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước. Điều kiện này đặc biệt quan trọng khi chúng ta muốn nâng tầm doanh nghiệp Việt Nam thay vì thu hút lắp ráp”, đại biểu nói.
Trao quyền cho địa phương kiểm soát ngành nghề tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài
Đại biểu Nguyễn Hữu Thông (đoàn Lâm Đồng) phản ánh, khoản 1, khoản 2 – Điều 8 dự thảo Luật quy định “nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường như các nhà đầu tư trong nước, trừ các trường hợp thuộc danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài do Chính phủ công bố”.
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Hữu Thông (đoàn Lâm Đồng) |
Quy định này thể hiện rõ chủ trương mở cửa, đảm bảo môi trường đầu tư bình đẳng và phù hợp với cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, trong thực tiễn một số tỉnh có vị trí nhạy cảm về quốc phòng, an ninh, có đường biên giới, đường bờ biển, cảng biển, cảng hàng không…, việc nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua phần góp vốn của doanh nghiệp có quỹ đất tại các khu vực trọng yếu thường phát sinh nhiều yếu tố phức tạp, tiềm ẩn rủi ro trong quá trình quản lý.
Trong khi đó, danh mục ngành, nghề tiếp cận thị trường được Chính phủ công bố và điều chỉnh nhưng dự thảo chưa quy định rõ cơ chế tham vấn ý kiến của địa phương trong quá trình sửa đổi danh mục này.
“Từ yêu cầu của thực tiễn nêu trên, tôi đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định theo hướng là trước khi sửa đổi, bổ sung danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, Chính phủ tổ chức lấy ý kiến các địa phương có liên quan.
Trong trường hợp phát sinh nguy cơ ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thì UBND cấp tỉnh được quyền kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, tạm thời rà soát, điều chỉnh dự án hoặc đề xuất đưa một số ngành, nghề, khu vực, vị trí vào diện hạn chế tiếp cận thị trường”, ông Thông đề xuất và nhấn mạnh, việc bổ sung cơ chế này sẽ góp phần tăng tính chủ động của địa phương trong quản lý đầu tư gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Cơ chế đặc biệt thì phải có tiêu chí đặc biệt
Đại biểu Hà Sỹ Đồng (đoàn Quảng Trị) đánh giá cao tinh thần cải cách trong dự thảo, đặc biệt là việc bổ sung ưu đãi đặc biệt, trao quyền nhiều hơn cho cơ chế đầu tư trong các khu công nghiệp, khu kinh tế và ghi nhận những tiến bộ về thủ tục hành chính, giảm tầng nấc trung gian.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần rà soát Điều 13 về ổn định ưu đãi đầu tư.
![]() |
| Đại biểu Hà Sỹ Đồng (đoàn Quảng Trị) |
Đồng ý với nguyên tắc bảo đảm tính ổn định chính sách nhưng theo ông Đồng, không thể duy trì ưu đãi với những dự án gây ô nhiễm hoặc không đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường. Ông đề nghị bổ sung điều, khoản cho phép thu hồi ưu đãi dự án phát thải vượt chuẩn trong 6 tháng liên tục.
Điều 15 đến Điều 18 về ưu đãi và ưu đãi đặc biệt, đại biểu đoàn Quảng Trị cho rằng đây là xương sống của chính sách thu hút đầu tư, nhưng nếu ưu đãi lớn không kèm điều kiện chuyển giao công nghệ thì chúng ta mãi là công xưởng.
Theo đó, Dự thảo quy định ưu đãi đặc biệt đối với dự án có vốn từ 3.000 – 6.000 tỷ đồng. Cho rằng đây là bước tiến nhưng chưa ràng buộc cam kết chuyển giao công nghệ, đại biểu đề nghị bổ sung điều kiện tối thiểu dự án được hưởng ưu đãi đặc biệt phải chuyển giao công nghệ đạt cấp độ 2 trở lên và đào tạo ít nhất 200 lao động bậc cao cho Việt Nam mỗi năm, nếu không hoàn thành cam kết thì thu hồi ưu đãi và có thể xử lý phải bồi hoàn gấp đôi số tiền ưu đãi đã được hưởng.
Điều 25 dự thảo Luật về dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư, trong đó mở rộng nhiều nhóm dự án phải xin chủ trương, trong đó có dự án nhà ở thương mại và khu đô thị, không phân biệt quy mô.
“Nếu quy định như vậy, nhiều dự án phải chờ quyết định kéo dài. Tôi đề nghị thu hẹp và chỉ yêu cầu chấp thuận chủ trương đối với dự án nhà ở, khu đô thị có quy mô sử dụng đất trên 50 ha hoặc quy mô dân số trên 3.000 người, dự án mở rộng dưới 20% thì không phải xin lại chủ trương”, đại biểu đề nghị.
Tại Điều 29 về thủ tục đầu tư đặc biệt, dự thảo quy định dự án trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế có thể được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trong 15 ngày, không phải xin chủ trương, không xin giấy phép xây dựng, không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường ban đầu.
Đại biểu cho rằng đây là đột phá thực sự vì trong khu kinh tế, khu công nghiệp đã có giấy phép chung.
“Tuy nhiên cơ chế đặc biệt thì phải có tiêu chí đặc biệt, nếu không quy định tiêu chí lựa chọn dự án; điều, khoản này dễ bị lạm dụng. Tôi đề nghị bổ sung điều kiện chỉ áp dụng cho dự án công nghệ ưu tiên quốc gia như bán dẫn, trung tâm dữ liệu AI, năng lượng tái tạo và quy mô vốn đầu tư tối thiểu 50 triệu USD trở lên, đồng thời quy định trách nhiệm người đứng đầu nếu xử lý chậm”, ông Đồng nói.


